KHÁT VỌNG TÂN HỒNG

TÌM HIỂU LỊCH SỬ 30 NĂM THÀNH LẬP HUYỆN TÂN HỒNG

(01/6/1989 – 01/6/2019)

Câu 1: Huyện Tân Hồng được thành lập vào ngày, tháng, năm nào (theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng)? Khi mới thành lập thuộc tỉnh nào? Nêu diễn biến quá trình thay đổi địa giới hành chính?

Trả lời: Huyện Tân Hồng được thành lập, theo Quyết định số 41- HĐBT, ngày 22 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Và chính thức đi vào hoạt động, vào ngày 01 tháng 6 năm 1989. Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Chấp hành Huyện ủy đã thống nhất lấy ngày 01 tháng 6 năm 1989 là ngày kỉ niệm ngày thành lập huyện Tân Hồng.

Khi mới thành lập huyện Tân Hồng thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Về việc phân chi huyện Hồng Ngự thành hai huyện: Hồng NgựTân Hồng. Huyện Tân Hồng chính thức đi vào hoạt động là ngày 01 tháng 6 năm 1989. Theo quyết định, huyện Tân Hồng có 8 xã 1 thị trấn, gồm: thị trấn Sa Rài, xã Tân Thành A, Tân Thành B, Tân Hộ Cơ, Tan Công Chí, Tân Phước, Thông Bình, Bình Phú, An phước.

Địa giới huyện Tân Hồng ở phía đông giáp tỉnh Long An, phía tây giáp huyện Hồng Ngự, phía nam giáp huyện Tam Nông, phía bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Cam-pu-chia.

Huyện Tân Hồng ngày nay, xưa chỉ có 2 làng là Tân Thành và Bình Phú dù nằm trên địa bàn Đồng Tháp Mười, nhưng Tân Hồng có địa hình khá đặc biệt có dãy giồng Sa Rài, Đuôi Tôm, Thị Đam (Vệ Đam) chạy dài từ Bắc xuống Nam, với nhiều gò cao khi nước lũ vừa, thậm chí lũ cao không bị ngập như gò Tàu, gò Bói, gò Cây Dương, gò Chùa, gò Rượu, gò Gòn, gò Kho, gò Da, gò Ổi, gò Tự Do, gò Tre, gò Tám Ấu… tạo thành đường phân thủy giữa 2 vùng, thứ nhất là vùng bưng với bưng lớn, bưng Bắc Trang, bưng Đìa Phèn, bưng Gáo Lồng Đèn. Thứ 2 là vùng trũng với nhiều kênh rạch mà trung tâm là rạch Cả Cái (hiện có tên là Cái Cái) chạy dọc từ xã Tân Phước, Tân Thành A đến hết xã Thông Bình, nối tiếp với sông Sở Hạ chạy qua địa phận xã Tân Hộ Cơ, xã Bình Phú.

  1. Giữ nguyên hiện trạng xã An Phước.
  2. Xã Tân Phước:

Địa giới xã Tân Phước ở phía đông giáp tỉnh Long An, phía tây giáp xã Tân Công Chí và xã An Phước, phía nam giáp huyện Tam Nông, phía bắc giáp xã Tân Thành A, và xã Tân Thành B.

  1. Xã Bình Phú:

Tách 2.100 hécta của xã Tân Hộ Cơ và 800 hécta của xã Tân Công Chí, đồng thời lấy thêm 620 hécta của xã Bình Thạnh (huyện Hồng Ngự cũ) để thành lập xã mới, xã Bình Phú.

Địa giới xã Bình Phú ở phía đông giáp kênh Sa Rài, phía tây giáp kênh Thống Nhất, phía nam giáp kênh Sâm Sai – Gò ổi, phía bắc giáp rạch Sở Hạ (Cam-pu-chia).

  1. Xã Thông Bình:

Tách 420 hécta cho xã Tân Hộ Cơ; tách 1. 550 hécta cho xã Tân Thành A; Tách 550 hécta cho xã Tân Thành B; và nhận lại của xã Tân Hộ Cơ 550 hécta.

Sau khi điều chỉnh, xã Thông Bình (mới) có 2.387 hécta diện tích tự nhiên . Địa giới xã Thông Bình ở phía đông giáp tỉnh Long An, phía tây giáp kênh Tân Thành, phía nam giáp Mương Chín Kheo – rạch Chuối Sướng, phía bắc giáp rạch Sở Hạ (Cam-pu-chia).

  1. Xã Tân Hộ Cơ:

Tách 2.100 hécta cho xã Bình Phú; tách 550 hécta cho xã Thông Bình và nhận 750 hécta; 420 hécta của xã Thông Bình. Sau khi điều chỉnh, xã Tân Hộ Cơ có 5.338 hécta diện tích tự nhiên.

Địa giới xã Tân Hộ Cơ ở phía đông giáp kênh Tân Thành, phía tây giáp kênh Sa Rài, phía nam giáp kênh Sâm Sai – Gò ổi, phía bắc giáp rạch Sở Hạ (Cam-pu-chia).

  1. Giải thể xã Tân Thành cũ (sau khi đã tách 2.600 hécta cho xã Tân Phước) để thành lập 2 xã mới lấy tên xã Tân Thành A và xã Tân Thành B:

Tách 3.427 hécta của xã Tân Thành cũ và 1. 550 hécta của xã Thông Bình để thành lập xã Tân Thành A. Xã Tân Thành A có 4.977 hécta diện tích tự nhiên.

Địa giới xã Tân Thành A ở phía đông giáp tỉnh Long An, phía tây giáp kênh Tân Thành – Mương Chín Kheo, phía nam giáp rạch Chang Hân, phía bắc giáp rạch Chuối Sướng.

Tách 190 hécta của xã Tân Thành cũ, 1.950 hécta của xã Tân Công Chí; 550 hécta của xã Thông Bình để thành lập xã Tân Thành B. Xã Tân Thành B có 2.690 hécta diện tích tự nhiên.

Địa giới xã Tân Thành B ở phía đông giáp kênh Tân Thành, phía tây giáp kênh Sa Rài, phía nam giáp kênh Co, phái bắc giáp kênh Sâm Sai – Gò ổi.

  1. Xã Tân Công Chí:

Tách: 600 hécta cho xã Tân Phước;1.950 hécta cho xã Tân Thành B;750 hécta cho xã Tân Hộ Cơ; 800 hécta cho xã Bình Phú; 700 hécta để thành lập thị trấn Sa Rài, đồng thời tiếp nhận lại 1.132 hécta diện tích tự nhiên của huyện Hồng Ngự cũ. Sau khi điều chỉnh, xã Tân Công Chí có 5.670 hécta diện tích tự nhiên.

Địa giới xã Tân Công Chí ở phía đông giáp kênh Sa Rài và kênh Thành Lập; phía nam, giáp kênh Hồng Ngự Vĩnh Hưng; phía bắc giáp kênh Sâm Sai – Gò ổi; phía tây giáp kênh Thống Nhất.

  1. Thị trấn Sa Rài:

Tách 700 hécta của xã Tân Công Chí để thành lập thị trấn Sa Rài (thị trấn huyện lỵ của huyện Tân Hồng).Thị trấn Sa Rài có 700 hécta diện tích tự nhiên.

Địa giới thị trấn Sa Rài ở phía đông giáp kênh Sa Rài; phía tây giáp đường nước nổi; phía nam giáp kênh Thành Lập; phía bắc giáp kênh Sâm Sai – Gồ ổi.

Câu 2: Hãy cho biết nguồn gốc và đặc điểm dân cư Tân Hồng ngày nay (trình bày tóm tắt)?

Trả lời: Vào những năm cuối của thập niên 60 (thế kỷ XIX), khi căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Võ Duy Dương ở Tháp Mười bị triệt hạ, vùng đất Tân Hồng ngày nay trở thành địa bàn trú đóng của nghĩa quân trong một thời gian dài, trước khi rút quân sang Trà Béc (Campuchia) để lên Tây Ninh liên kết với nghĩa quân của Trương Định. Trong lực lượng nghĩa quân của Võ Duy Dương có một toán quân do Huỳnh Công Huy chỉ huy rút quân ở giồng Sa Rài, sau đó binh lính đưa cả vợ con và người thân về đây sinh sống, lúc này dân số tăng lên đáng kể, Huỳnh Công Huy đứng ra quan hệ trực tiếp với chính quyền thực dân xin lập làng Tân Thành.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vào khoảng năm 1946 – 1947, có một số phần tử phản động, lợi dụng tôn giáo hoạt động chống phá công cuộc kháng chiến của Nhân dân ta. Chúng đã kích động, xúi giục một số giáo dân Phật giáo Hòa Hảo có những hành động bạo lực nhằm vào những gia đình có thân nhân là Việt Minh, gia đình có tham gia kháng chiến, nên nhiều gia đình thuộc diện này đang sinh sống ở cù lao Long Sơn, Long Thuận, Phú Thuận, cù lao Tây… họ chạy lánh nạn về giồng Sa Rài cư ngụ và sinh sống lâu dài.

Từ năm 1957 – 1959, Ngô Đình Diệm đưa dân miền Trung từ 02 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, nhằm thực hiện chủ trương bình định miền Nam với thủ đoạn là “Tát nước bắt cá”, đưa dân đến địa bàn Tân Hồng chúng dồn vào 04 khu Dinh Điền, (Tân Hòa, gò Chùa, Đôn Hậu, Đôn Phục).  được chính quyền sở tại cấp đất sản xuất, ngoài ra họ còn sinh sống bằng nghề khai thác cá tự nhiên.

Sau tách huyện năm 1989, Nhân dân khắp nơi đổ về huyện Tân Hồng với số lượng khá lớn, chủ yếu là nhận đất khai hoang để sản xuất, chăn nuôi, mua bán, làm nghề thủ công mỹ nghệ và làm nghề tiểu thủ công nghiệp sinh sống và lập nghiệp trên vùng đất mới.

Dân cư sống đông đúc, phân bổ đều khắp các cụm, tuyến dân cư, tuy nhiên phần lớn sống tập trung ở thị trấn và trung tâm các xã. Mật độ dân số bình quân 309 người/km2  tổng dân số của huyện đến năm 2017 là trên 92.000 người.

Câu 3: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam, huyện Tân Hồng có bao nhiêu xã được phong tặng danh hiệu Anh hùng, gồm những xã nào? Có bao nhiêu Liệt sĩ, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân?

Trả lời: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam, huyện Tân Hồng Có 03 xã được tuyên dương anh hùng, trong đó  xã Tân Thành  và xã Thông Bình được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Hộ Cơ được Nhà nước tuyên dương anh hùng trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu chiến tranh biên giới Tây – Nam bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc Có 710 liệt sĩ, có 76 bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và 02 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (anh hùng Nguyễn Văn Bảnh và anh hùng Nguyễn Văn Tiệp)

Câu 4: Năm 1989, Tỉnh ủy Đồng Tháp quyết định chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời huyện Tân Hồng có bao nhiêu đồng chí (hãy kể tên các đồng chí đó)? Trong đó có bao nhiêu đồng chí tham gia Ban Thường vụ Huyện ủy (hãy kể tên các đồng chí đó)?

Trả lời: Năm 1989 tỉnh ủy Đồng Tháp chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tân Hồng lâm thời có 29 đồng chí:

  1. Đồng chí Trương Ngọc Hân, Bí thu Huyện ủy.
  2. Đồng chí Phan Văn Tiếu, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.
  3. Đồng chí Đoàn Văn Thuận, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện.
  4. Đồng chí Phạm Thành Công – Trưởng Ban xây dựng Đảng.
  5. Đồng chí Nguyễn Văn Hữu – Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy.
  6. Đồng chí Lý Văn Bòn – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (phụ trách nông nghiệp).
  7. Đồng chí Lê Hoàng Thắng – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (phụ trách tài mậu).
  8. Đồng chí Đào Ngọc Ẩn – Trưởng công an huyện.
  9. Đồng chí phan Xuân Hồng – Chỉ huy trương Ban chỉ huy quân sự huyện.
  10. Đồng chí Nguyễn Văn Dưỡng.
  11. Đồng chí Nguyễn Thành Khiêm.
  12. Đồng chí Trần Minh Hồng.
  13. Đồng chí Trần Thanh Nga.
  14. Đồng chí Đặng Quốc Thắng.
  15. Đồng chí Huỳnh Hoàng Hòa.
  16. Đồng chí Nguyễn Ngọc Be.
  17. Đồng chí Phan Minh Tấn.
  18. Đồng chí Lê văn Dư.
  19. Đồng chí Phan Sơn Trắng.
  20. Đồng chí Lê Văn Hùng.
  21. Đồng chí Phạm Thị Huệ.
  22. Đồng chí Trần Phước Thọ.
  23. Đồng chí Nguyễn Văn tấn.
  24. Đồng chí Lê Xuân Sơn.
  25. Đồng Chí Phan Văn Nhẫn.
  26. Đồng chí Lê Văn Ẩn.
  27. Đồng chí Nguyễn Văn Hải.
  28. Đồng chí Tiêu Thanh Dân.
  29. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận.

Trong đó có 9 đồng chí trong Ban thường vụ Huyện ủy :

  1. Đồng chí Trương Ngọc Hân, Bí thư Huyện ủy.
  2. Đồng chí Phan Văn Tiếu, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy.
  3. Đồng chí Đoàn Văn Thuận, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện.
  4. Đồng chí Phạm Thành Công – Trưởng Ban xây dựng Đảng.
  5. Đồng chí Nguyễn Văn Hữu – Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy.
  6. Đồng chí Lý Văn Bòn – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (phụ trách nông nghiệp).
  7. Đồng chí Lê Hoàng Thắng – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (phụ trách tài mậu).
  8. Đồng chí Đào Ngọc Ẩn – Trưởng công an huyện.
  9. Đồng chí phan Xuân Hồng – Chỉ huy trương Ban chỉ huy quân sự huyện.

Câu 5: Cửa khẩu quốc tế Dinh Bà, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Tháp, vùng biên giới Việt Nam – Campuchia có liên quan đến huyện Tân Hồng và Dinh Bà được quyết định thành lập và quy hoạch vào các mốc thời gian nào? Cấp nào quyết định?

Trả lời: Tháng 3 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Cửa khẩu quốc tế Dinh Bà; tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập khu kinh tế Cửa khẩu tỉnh Đồng Tháp, trong đó huyện Tân Hồng có 3 xã biên giới (Tân Hộ Cơ, Bình Phú, Thông Bình) và thị trấn Sa Rài nằm trong khu kinh tế cửa khẩu; tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Quyết định số 925 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam – Campuchia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó quy hoạch xây dựng Tân Hồng có 02 đô thị động lực cấp II (thị trấn Sa Rài và Tân Phước) và 01 đô thị động lực cấp III (thị trấn Tân Hộ Cơ) và các công trình phúc lợi khác. Khu vực biên giới đã được đầu tư xây dựng như : Chợ đưởng biên, trạm kiểm soát liên ngành, các công trình giao thông, điện….đặc biệt là đầu tư thi công mặt đường nối từ Cửa khẩu Quốc tế Dinh Bà đến đường Xuyên Á ( Campuchia ) dài 28,5 km, kinh phí trên 100 tỷ đồng tạo tiềm năng rất lớn cho huyện phát triển kinh tế.

Câu 6: Thị trấn Sa Rài quy hoạch đạt tiêu chí đô thị loại IV, loại V được điều chỉnh như thế nào? Đê bao thị trấn Sa Rài được khởi công xây dựng vào năm nào và hoàn thành vào năm nào? Hiện nay được Trung ương công nhận đê bao cấp mấy?

Trả lời: Thị trấn Sa Rài được Đại hội đại biểu lần thứ IV nhiệm kỳ 2005-2010 Đảng bộ Huyện Tân Hồng đề ra, đầu tư phát triển thị trấn Sa Rài đạt đô thị loại V vào năm 2010 và đô thị loại IV năm 2015. Tại Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2010 – 2015 của Đảng bộ huyện Tân Hồng có điều chỉnh quy hoạch thị trấn Sa Rài như sau: “Tiếp tục đầu tư phát triển thị trấn Sa Rài hoàn thành các tiêu chí đô thị loại V vào năm 2013, tiến hành điều chỉnh đô thị loại IV vào năm 2020…”.

Đê bao thị trấn Sa Rài được khởi công xây dựng vào năm 1995, hoàn thành vào năm 1997. Sau nhiều năm duy tu nâng cấp, đã được Trung ương công nhận đê bao cấp III, đây là đê bao cấp III đầu tiên ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Câu 7: Hãy cho biết ông Nguyễn Văn Cơ là ai? Tên của ông được đặt tên cho xã và trường nào? Huyện Tân Hồng có bao nhiêu di tích được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, cấp tỉnh và ngày, tháng, năm được công nhận? Hãy kể tên từng di tích đó?

Trả lời: Ông Nguyễn Văn Cơ sinh năm 1886, người làng Bình Thạnh (nay là thị trấn Sa Rài, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp), là nông dân có tinh thần yêu nước, căm thù giặc Pháp xâm lược. Khoảng năm 1940, khi nhà sư Trần Liên đến Sa Rài lập chùa, nhận thấy nhà sư là người tu hành có đạo hạnh và là một người yêu nước nên ông xin qui y vào chùa tu hành. Ông tham gia cách mạng năm 1944, ông cùng với nhà sư Trần Liên xây dựng cơ sở cách mạng, lấy chùa Phước Thiện làm nơi hội họp và nuôi chứa cán bộ, về sau là nơi làm việc và sinh hoạt của Chi bộ xã Tân Hộ Cơ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Tháng 8 năm 1947, giặc Pháp đột kích bao vây chùa, thế giặc rất mạnh, cán bộ, chiến sĩ có mặt trong chùa lúc đó rút lui an toàn, riêng nhà sư Nguyễn Văn Cơ tình nguyện ở lại cất giấu tài liệu và vật dụng có liên quan đến kháng chiến. Pháp vào chùa lục soát tìm thấy 02 quả lựu đạn của lực lượng ta quên lại, chúng đánh đập tra khảo ông hòng khai thác thông tin về cán bộ cách mạng, nhưng không có hiệu quả, ông quyết giữ vững khí tiết của người cách mạng, không khai nửa lời, giặc Pháp bắn ông và phóng hỏa đốt chùa. Ông được công nhận là liệt sĩ; tên ông được đặt tên xã Tân Hộ Cơ và Trường trung học cơ sở Tân Hộ Cơ, tiểu học Tân Hộ Cơ 1, tiểu học Tân Hộ Cơ 2, mẫu giáo Tân Hộ Cơ.

– Có 06 di tích lịch sử được công nhận (01 cấp quốc gia, 05 cấp tỉnh): Di tích chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung, do Bộ Văn hóa Thể thao quyết định ngày 19 tháng 01 năm 2004. Di tích Miếu Tiền hiền Huỳnh Công Huy, do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định ngày 10 tháng 4 năm 2003. Di tích Chùa Tân Long, do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định ngày 14 tháng 11 năm 2006. Di tích Chùa Phước Thiện, do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định ngày 05 tháng 9 năm 2008. Di tích Căn cứ kháng chiến Cả Trấp, do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định ngày 12 tháng 12 năm 2011. Di tích Đình ngã ba Thông Bình, do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định ngày 18 tháng 01 năm 2016.

Câu 8: Địa bàn huyện Tân Hồng thuộc huyện Hồng Ngự giai đoạn 1980 – 1989 (trước khi chia tách huyện) có bao nhiêu nông trường? Nằm trên địa bàn những xã nào (ngày nay)? Tên của từng nông trường?

Trả lời: Huyện Tân Hồng thuộc huyện Hồng Ngự giai đoạn 1980 -1989 trước khi chia tách huyện có 5 Nông trường nằm trên địa bàn các xã Tân Hộ Cơ, Tân Công Chí, Tân Phước và An Phước. Có 05 nông trường gồm: Nông trường Sở Hạ đóng tại xã Tân Hộ Cơ; Nông trường Quyết Thắng tại xã Tân Công Chí; Nông trường Sa Rài tại Ấp Đuôi Tôm xã Tân Hộ Cơ; Nông Trường Giồng Găng tại xã An Phước (nay là Đoàn kinh tế Quốc Phòng 959); Nông trường Bắc Trang tại xã Tân Công Chí

Câu 9: Trình bày mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Hồng lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đề ra?

Trả lời: Mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ 2015 – 2020 huyện Tân Hồng là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, chính quyền thân thiện phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; khác thác kinh tế biên giới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn với tạo việc làm và đưa lao động đi làm việc ở nước ngòai theo hợp đồng ; giữ vững quốc phòng – an ninh, bảo vệ đường biên, cột mốc và chủ quyền biên giới quốc gia, tăng cường công tác đối ngoại”.

Chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Hồng lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 là:

  1. Tổng giá trị sản xuất ngành chủ yếu trên địa bàn đạt 9.241,9 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thủy sản đạt 3.270,39 tỷ đồng, giá trị ngành sản xuất nông nghiệp – xây dưng đạt 695,46 tỷ đồng, giá trị bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đạt 5.276,05 tỷ đồng.
  2. Thu nhập bình quân đầu người đạt 45 tiệu đồng trên người (tăng gấp 1,88 lần so với năm 2015).
  3. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng bình quân hàng năm 12%.
  4. Có 05/08 xã hoàn thành cơ bản tiêu chí nông thôn mới, trong đó duy trì 2 xã đạt chuẩn vào cuối năm 2015, xây dựng thêm 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
  5. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/ năm; hộ cận nghèo giảm 1,5%/năm theo chuẩn mới.
  6. Giải quyết việc làm 10.000 lao động, trong đó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 250 người. tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% (trong đó ngành đào tạo nghề 40%).
  7. Có 100% xã có trạm y tế đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã và đạt 7,7 bác sĩ / 1 vạn dân; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 80%.
  8. Có 90% hộ dân sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh, tỉ lệ thu gôm chất thải rắn ở thị trấn, trung tâm xã, chợ xã đạt 80%; có 80% – 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý .
  9. Phấn đấu trong nhiệm kỳ không có tổ chức, cơ sở đảng yếu kém.

Câu 10: Từ đánh giá kết quả giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Hồng lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 – 2020, hãy nêu cụ thể chỉ tiêu đạt? Chỉ tiêu chưa đạt?

Trả lời: Thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/ĐH, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Hồng lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 – 2020. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Hồng lần thứ VI đề ra 09 chỉ tiêu chủ yếu, đến giữa nhiệm kỳ có 2 chỉ tiêu đạt à vượt kế hoạch, 04 chỉ tiêu gần đạt và 01 chỉ tiêu đạt 50% (đến cuối nhiệm kỳ có khả năng đạt); 01 chỉ tiêu đến cuối nhiệm kỳ có khả năng không đạt, đó là chỉ tiêu nông thôn mới (vì chỉ tiêu đặt ra: Duy trì 02 xã Tân Thành B, Tân Công Chí đạt chuẩn vào cuối năm 2015, nhưng đến nay Tân Thành B đạt, Tân Công Chí thì chưa. Xây dựng thêm 03 xã đạt chuẩn, nhưng đến nay chỉ triển khai Kế hoạch thực hiện 02 xã Tân Hộ Cơ và An Phước); 01 tiêu chí không đạt (Phấn đấu trong nhiệm kỳ không có tổ chức, cơ sở đảng yếu kém, nhưng đến nay có 02 chi bộ yếu kém) và dự kiến đến cuối nhiệm kỳ chỉ đạt 07/09 chỉ tiêu đã đề ra.

* Câu hỏi tự luận: Qua 30 năm xây dựng và phát triển của huyện Tân Hồng, anh (chị) có suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc gì từ những kết quả đạt được, chưa được. Qua đó, anh (chị) đề xuất những ý tưởng, giải pháp để huyện Tân Hồng phát triển trong thời gian tới.

Trả lời: Trước khi nói đến việc xây dựng và phát triển của huyện Tân Hồng sau 30  năm hay nói khác hơn là kết quả đạt được những chỉ tiêu qua các nghị quyết của các kỳ Đại hội qua 30 năm. Thì việc trước tiên ta hãy nói đến thực trạng lúc bấy giờ của kinh tế , An ninh quốc phòng .v.v.. của nhân dân huyện Tân Hồng.

– Đầu tiên phải nói đến Tân Hồng là một huyện vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Đồng Tháp.

Tắc ráng phương tiện giao thông1

Về kết cấu hạ tầng thấp kém, giao thông là đường đất men theo các tuyến sông, kênh, rạch hoặc những đường thét băng qua các cánh đồng vào mùa khô. Từ năm 1989 về trước Tân Hồng gần như bị cô lập về giao thông khi mùa nước nổi về, toàn huyện chỉ có vài chiếc tắc ráng đưa đò (mỗi ngày chỉ có một chuyến ra và một chuyến về, không có các tuyến đường liên vùng nối với  Tân Hồng).

Về y tế: Huyện không có bệnh viện, chỉ thành lập một trung tâm y tế, và một thuyền y tế lưu động (Do điều kiện giao thông cách trở), cơ sở vật chất y tế đơn sơ và tạm bợ.

Về Giáo dục: Học sinh học 3 ca, 4 ca là phổ biến, trường học trên 90% là tre lá và gỗ lá.

Trụ sở cơ quan rất khó khăn cán bộ mướn nhà dân để làm việc.

Về quốc phòng- An ninh: Cũng rất phức tạp, do tác động tình hình an ninh trật tự thiếu ổn định của nước bạn Campuchia. Sự xa xôi cách trở địa bàn; tỉ lệ dân nghèo đói nhiều, nạn trộm cắp trâu bò xẩy ra thường xuyên.

Chính quyền và bộ đội đang tiếp dân gia cố đê bao2

Hàng loạt các khó khăn về kinh tế, An ninh quốc phòng …v.v. bao phủ một huyện vùng sâu mới thành lập. Với sự lều lái của Ban Thường vụ, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Tân Hồng qua các nhiệm kỳ đưa ra những chỉ tiêu và hành động quyết liệt từng giai đoạn hợp lý đến nay Tân Hồng đã thay đổi và phát triển: Ngay từ đầu của Huyện ủy lâm thời với chủ trương “Khai hoang, phục hóa, thâm canh, tăng vụ, tăng diện tích và năng suất và sản lượng lúa; gắn liền với chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Vận động xã hội hóa Nhà nước và nhân dân cùng làm đã tiến hành xây dựng 16 khu đê bao chống lũ bảo vệ cho hơn 10.000 ha lúa 3 vụ. Dọc theo tuyến kênh Hồng Ngự – Vĩnh Hưng và Tân Thành Lò Gạch đến nay đã có hơn 700 ha diện tích ao nuôi cá tra xuất khẩu, sản lượng tốp đầu trong tỉnh.

Công nghiệp và tiểu công nghiệp được quy hoạch và sắp xếp lại mở rộng trên toàn huyện,  ngành công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp và dịch dụ hàng tiêu dùng.

Hệ thống đường điện trung thế, hạ thế đã phục vụ nhu cầu sinh hoạt trên 99% số hộ dân toàn huyện, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất; số hộ sử dụng nguồn nước sạch đạt trên 85%, thông tin liên lạc phát triển mạnh, các loại hình bưu chính viễn thông phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu thông tin.

Đường 8437

Kết cấu hạ tầng giao thông nay đã có 2 đường tỉnh lộ (842, 843) và quốc lộ 30 chiều dài hàng trăm km nhựa đường đến trung tâm huyện và cửa khẩu biên giới Dinh Bà. Giao thông nông thôn đầu tư xây dựng ngày hoàn chỉnh, xe 4 bánh đi đến các xã thị trấn. Đê bao thị trấn Sa Rài được tu dưỡng và nâng cấp và được Trung ương công nhận đê bao cấp 3. Xây dựng nhiều tuyến dân cư vượt lũ, chấm dứt tình trạng chạy lũ hàng năm.

Lĩnh vực thương mại dịch vụ phát triển đáng kể: có chợ trung tâm huyện, 2 chợ cửa khẩu biên giới, 10 chợ xã, thị trấn cùng với hộ kinh doanh mua bán.

Cùng với sự phát triển kinh tế, thì lĩnh vực văn hóa xã hội huyện cũng không ngừng phát triển. Đời sống nhân dân, nhất là hộ nghèo, gia đình chính sách được cải thiện về nhiều mặt; hoạt động văn hóa thể thao với nhiều loại hình phong phú, đa dạng đã tạo nên sắc thái mới trong đời sống tinh thần nhân dân.

Trường PTTH Giồng Găng

8

Trường TH Trần Phú trong ngày khai  giảng năm học mới

3

Trường TH Trần Phú

h7

Lĩnh vực giáo dục cũng phát triển vượt bậc làm thay đổi diện mạo, nâng cao dân trí của một huyện vùng sâu, vùng biên giới, hiện nay huyện có 3 trường phổ thông trung học; các xã , thị trấn đều có Trường Trung học Cơ sở, Tiểu học, Mầm non và xây dưng kiên cố hóa, trang thiết bị đầy đủ đáp ứng mặt bằng chung của tỉnh. Đến nay có 26 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 và 01 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2.

Y Bác sĩ đang phẩu thuật5
Y Bác sĩ bệnh viện Đa Khoa Tân Hồng9

Công tác xây dựng Đảng: Đội ngũ cán bộ huyện xã nay đã được chuẩn hóa theo quy định, số lượng và chất lượng. Trụ sở an khang hơn. Công tác an ninh – quốc phòng ngày có nền nếp và có chiều sâu.Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân đã có sự thay đổi lớn, đến nay trung tâm y tế huyện có 01 bệnh viện tuyến huyện  với 120 gường bệnh 40 Bác sĩ; các trạm y tế của xã , thị trấn đạt chuẩn quốc gia và đều có bác sĩ, toàn huyện có 62 bác sĩ.

Trụ sở UBND huyện Tân hồng6

Ba mươi năm, với nhiều khó khăn và thử thách, đối với huyện Tân Hồng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, sự đoàn kết của hệ thống chính trị và nhân dân, sự hỗ trợ có hiệu quả về nhiều mặt của Trung ương, Tỉnh và sự ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân. Tân Hồng đã từng bước đưa kinh tế và xã hội phát triển.

Tuy nhiên, cũng còn nhiều mặt, lĩnh vực còn hạn chế: Nhiều công ty cấp IV hoạt động kinh doanh không mang hiệu quả, dẫn đến việc phải giải thể, một số cán bộ bị kỉ luật; Khu kinh tế cửa khẩu Dinh Bà, Thông Bình chậm phát triển, xây dựng khu di tích chùa Tám Ấu, Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung, khu du lịch Bàu Dông làm cơ sở để phát triển du lịch…Chủ trương này thực hiện không đạt kết quả như mong muốn; xây dưng và phát triển đô thị thiếu tập trung, cụ thể thị trấn Sa Rài gần 30 năm chưa đạt đô thị loại IV, trong đó hệ thống giao thông còn kém. Một số cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị chưa thật sự đoàn kết, biểu hiện rõ nhất là thiếu đấu tranh xây dựng, xảy ra tình trạng thưa kiện với hình thức mạo danh.

Từ những thành tựu đạt được và những mặt còn hạn chế trong thời gian qua. Để xây dựng và phát triển huyện Tân Hồng tôi xin đề xuất những ý tưởng, giải pháp để huyện Tân Hồng phát triển trong thời gian tới.

Một là Tập trung nâng cao, đẩy nhanh tiến độ khu vực thương mại, (Cầu Đúc) ở các khu đất công đã quy hoạch; kêu gọi nhà đầu tư (trải thảm đỏ nếu cần). Vì đây là những khu đất rất tốt để hoạt động thương mại dịch vụ phát triển, là bề nổi của huyện nhà.

Cần có quy hoạch các khu đất cho các công ty xí nghiệp, xưởng, nhà máy chế biến.v.v…

Để tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao đời sống; không để người dân di cư đi đến nơi khác làm ăn. (Hiện nay tôi được biết đến các khu dân cư, người dân trong độ tuổi lao động đi Bình Dương làm, ở nhà còn cụ già và trẻ em). Lúc này dân số tăng lên, nhu cầu của con người xuất hiện cùng lúc đó dịch vụ các loại phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên.

Hai là đề xuất UBND tỉnh đầu tư để huyện Tân Hồng phát triển kinh tế đặc thù là hãy phát huy tối đa về lợi thế Cửa khẩu Quốc tế Dinh Bà để cho thị trấn Sa Rài là một Siêu thị miễn thuế (Cả thị trấn là một Siêu thị). Chủ đầu tư ở đây là người dân Tân Hồng. Người dân trở thành là tiểu thương, thương buôn (Tại sao ta có chương trình khuyến Công, Khuyến Nông, mà không có Khuyến Thương, ông bà ta có câuvô thương, bất phú). Cần đưa ra những chính sách, hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, qua cửa khẩu Dinh Bà và 5 năm đầu miễn thuế cho tất cả các mặt hàng, sản phẩm được pháp luật cho phép. Những mặt hàng đặc thù của khu vực biên giới. (Thuê chuyên gia kinh tế hay người từng trải nghiệm về lĩnh vực buôn bán, thương mại, mở các cuộc Hội thảo nói chuyện kích thích việc buôn bán làm ăn phù hợp với đặc điểm vùng.) Thị trấn Sa Rài là nơi nhập hàng để chuyển đi các huyện tỉnh khác.v.v…Sau 5 năm hàng hóa qua cửa khẩu Dinh Bà trả thuế siêu nhẹ, người dân buôn bán nộp thuế thu nhập.

Ba là  việc phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ, ta nên phát triển du lịch vùng sông nước (ngành công nghiệp không khói). Lấy Gò Quản Cung làm điểm du lịch, dựng lại hình ảnh chiến thắng Gò Quản Cung – Giồng Thị Đam trên mùa nước nổi; kết hợp với ẩm thực cá linh non canh chua bông điên điển trên những chiếc xuồng ba lá.

Bên cạnh đó phát triển, tuyên truyền về tâm linh Chùa Gò Tám Ấu, (tìm những lịch sử , truyền thuyết về ngôi chùa gò Tám Ấu, khu du lịch Bàu Dông – Dinh Bà cho khách du lịch, thương buôn… Thị trấn Sa Rài là nơi nghỉ chân của thương buôn du khách, ngoài các mặt hàng nhập khẩu, chúng ta chào mời những mặt hàng lưu niệm, phát triển dịch vụ nhà trọ, khách sạn.

Thị trấn đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, những con đường tản bộ mua sắm, những nhà hàng quán nước được mọc lên theo quy hoạch. Kênh Sâm Sai – Gò Ổi được đào sâu và mở rộng, xây dưng bờ kè và vĩa hè của kênh Sâm Sai – Gò Ổi, vĩa hè (kênh Sâm Sai – Gò Ổi đường Hùng Dương) trở thành chợ đêm, hội tụ quán nước, thức ăn là nơi tản bộ lý tưởng của người dân và du khách.

Quy hoạch phía tây bắc chợ Tân Hồng (khu dân cư xã Bình Phú, Gò Khôn) là những nhà máy, xí nghiệp chế biến nông sản (lúa,)và thủy sản (cá tra) và có nhà máy xử lý chất thải.

Cần phát triển và nâng qui mô chợ Tân Thành B, nâng cấp trở thành một thương hiệu, các người buôn bán thịt bò cần một logo cho riêng mình. Đưa ra tiêu chuẩn sạch, an toàn cho các lò giết mổ và người bán.

Bình Phú, An Phước và Tân Công Chí cần phát triển mạnh về thủy sản ( cá tra),cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến (có thể là nhà máy chi nhánh)

Bốn là về nhân lực: Phải chọn người cán bộ vừa hồng vừa chuyên. Thay đổi trong cách nghĩ, sáng tạo trong cách làm. Giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng; luôn thể hiện được trách nhiệm vai trò lãnh đạo. Những suy nghĩ và hành động luôn hướng về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, với những chủ trương đúng đắn, chỉ đạo kịp thời của cấp ủy Đảng là nhân tố thành công trong mọi hoạt động.

Những suy nghĩ, những trăn trở, đề xuất của bản thân hy vọng góp phần khơi dậy ý tưởng, giúp cho Tân Hồng phát triển ngày một tươi đẹp. Sau đây, cho tôi gửi đến bài thơ thay cho lời kết./.

KHÁT VỌNG TÂN HỒNG

 

Tân Hồng quê tôi, vùng sâu biên giới.

Quanh năm cày xới tay lấm, chân bùn.

Người dân cần cù làm ăn phát triển.

Thế mạnh Tân Hồng đồng rộng mênh mông…..

*

Đã qua hết rồi những ngày tháng khổ,

Du lịch sinh thái, ý tưởng tương lai.

Mùa nước nổi về dân chài bung lưới.

 

 

Chòng chành sông nước, thuyền ghe đầy đồng.

Trâu cởi trên đồng, làm vui du khách

Bẻ bông điên điển, bắt cá linh non

Ẩm thực đầu nguồn, đặc sản quê tôi.

*

Đi về hướng Tây Dinh Bà vẫy gọi

Cửa khẩu nhộn dịp, thương buôn rộn ràng

Thị trấn nhập hàng chuyển đi các hướng.

Tân hồng quê tôi khát vọng tương lai…